Nền
kinh tế Việt Nam có một năm khởi sắc, các cân đối vĩ mô cải thiện
tích cực. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,81%; tỷ lệ thất nghiệp giảm
còn 2,24%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,53%, tỷ giá ngoại tệ ít biến
động. Sau 5 năm đi lên, nền kinh tế đang tiến dần về đỉnh pha phục hồi
của chu kỳ kinh tế. Đây là giai đoạn chứng kiến sản lượng công nghiệp
tăng mạnh, niềm tin tiêu dùng và sức chi tiêu cao, tín dụng tăng nhanh,
và lợi nhuận doanh nghiệp bứt phá dựa trên nền tảng mặt bằng lãi
suất thấp và điều kiện kinh doanh cải thiện.
Động
lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nằm ở ngành công nghiệp chế
biến chế tạo (CBCT) và ngành dịch vụ. GDP ngành CBCT và dịch vụ tăng
lần lượt 14,4% và 7,4% so với 2016, đóng góp tương ứng 2,33 điểm và 2,87
điểm phần trăm vào mức tăng chung. Vấp phải nhiều khó khăn, sản lượng
ngành nông nghiệp tăng 2,9%, trong khi ngành khai khoáng giảm 7,1%.
Các
chỉ số thường kỳ theo dõi tình trạng của ngành sản xuất cũng biểu
thị một năm sôi động. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân
9,4%, trong đó ngành CBCT tăng 14,5%, mức tăng cao nhất trong nhiều năm
trở lại. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) duy trì trên 50 điểm
xuyên suốt 2017, hàm ý các điều kiện của ngành sản xuất không ngừng cải
thiện và duy trì được quán tính từ năm 2016. Nhu cầu thuê lao động
theo đó cũng gia tăng, với số lao động trong ngành tăng 5% so với cùng
kỳ. Đáng chú ý, mức tăng sản lượng và lao động chủ yếu đóng góp
bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngành
dịch vụ khởi sắc nhờ lực đẩy từ tín dụng bán lẻ và niềm tin tiêu
dùng gia tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 9,5%
(đã loại trừ yếu tố giá), so với mức 7,8% năm 2016. Tiêu dùng cuối
cùng – chủ yếu là chi tiêu của hộ gia đình và là cấu phần lớn nhất
của tổng cầu – tăng 7,35%, xấp xỉ năm 2016. Xu hướng chú trọng đẩy
mạnh bán lẻ của các ngân hàng và công ty tài chính cùng với sự
bùng nổ của các chuỗi bán lẻ đã góp phần đẩy tín dụng tiêu dùng
tăng tới 65% so với mức 50% năm 2016. Trong đó, tín dụng tập trung cho
các khoản mục lớn như vay mua, sửa chữa nhà ở, thiết bị gia đình,
và phương tiện đi lại. Sự lạc quan của người tiêu dùng đối với triển
vọng kinh tế tích cực, thể hiện qua chỉ số niềm tin tiêu dùng đạt
117 điểm trong quý 2 và là mức cao nhất trong 5 năm, cũng khiến người
dân sẵn sàng hơn trong chi tiêu cho các khoản mục lớn bên ngoài những
nhu cầu thiết yếu. Chỉ số niềm tin cao gợi ý giai đoạn tăng trưởng khả
quan của ngành bán lẻ còn kéo dài tối thiểu 6 tới 9 tháng nữa.
Cũng
vào giai đoạn này, lạm phát thường có xu hướng tăng dần, cán cân ngân
sách và cán cân thanh toán cải thiện, và các thị trường tài sản chuyển
động tích cực.
Chỉ
số giá tiêu dùng tăng bình quân 3,53%, cao hơn mức 2,7% năm 2016. Các
cấu phần chính làm tăng lạm phát năm 2017 đều ở trong diện kiểm soát
hoặc có điều tiết giá: dịch vụ y tế công cộng, dịch vụ giáo dục,
và xăng dầu. Giá dịch vụ y tế tăng tại 31 tỉnh, thành phố khiến chỉ
số giá nhóm này tăng bình quân 42%. Tương tự, chỉ số giá nhóm giáo
dục tăng 9,1% khi học phí tăng tại 5 tỉnh và 41 tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương. Giá xăng dầu tăng liên tiếp trong 2 quý cuối năm,
khiến chỉ số giá nhóm giao thông tăng 6,8%. Một yếu tố kìm hãm lạm
phát trong năm là chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 2,6% do giá thịt
lợn giảm mạnh.
Với
thu ngân sách tăng cao và chi ngân sách tăng chậm hơn dự kiến (do giải
ngân đầu tư công chậm), cán cân ngân sách cải thiện đáng kể, với tỉ
lệ thâm hụt từ 4,3% GDP năm 2016 còn khoảng 2,3% năm 2017. Tổng thu ngân
sách tăng 17% so với năm 2016, tăng trưởng đáng kể từ thu nhập cá nhân
(20%), thu từ DN ngoài nhà nước (13%) và thu từ xuất nhập khẩu (25%),
cho thấy thu ngân sách cải thiện đáng kể nhờ hoạt động kinh tế sôi
động. Trong khi đó, tình hình sản xuất kinh doanh của phần lớn DNNN
ít cải thiện khi thu từ các DNNN tăng khoảng 5%.
Cán
cân thanh toán chuyển biến tích cực với thặng dư ghi nhận ở cán cân
thương mại và tài chính. Hoạt động xuất nhập khẩu bứt phá mạnh với
kim ngạch mỗi chiều tăng 21%, thặng dư thương mại hàng hóa đạt khoảng
3 tỷ USD. Cán cân tài chính thặng dư lớn nhờ đầu tư trực tiếp nước
ngoài đạt 17,5 tỷ USD, tăng 11%. Với thặng dư lớn, dự trữ ngoại hối
tăng lên khoảng 50 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay.
Lợi
nhuận khả quan đẩy giá cổ phiếu và các chỉ số chứng khoán tăng
mạnh, nhà đầu tư ngoại mua ròng giá trị lớn. Theo tổng hợp của SSI,
tổng lợi nhuận sau thuế trong 9 tháng của 94% doanh nghiệp niêm yết
trên sàn Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) tăng 22% so với cùng kỳ
2016. Trong cùng thời gian, chỉ số HOSE tăng 21%, còn chỉ số HNX tăng
34% so với cuối 2016; khối ngoại mua ròng hơn 13 nghìn tỷ đồng. Thị
trường bất động sản giao dịch sôi động, tỷ lệ hấp thụ bình quân 80%,
phân khúc bình dân lên tới 92%. Thị trường vàng ổn định, không ảnh
hưởng tới kinh tế vĩ mô.
Năm
2018, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều thuận lợi để tiếp tục duy trì
quán tính tăng trưởng. Bên ngoài, tăng trưởng toàn cầu được dự báo khả
quan dựa trên sự nối tiếp đà hồi phục ở các nền kinh tế chủ chốt
như EU, Nhật, và Mỹ trên nền lãi suất thấp; tăng trưởng kinh tế Trung
Quốc vẫn tương đối cao, nhu cầu tiêu dùng nội địa gia tăng. Trong nước,
nhu cầu tiêu dùng và dư địa tăng trưởng bán lẻ còn dồi dào cùng với
đà giải ngân vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục thúc đẩy phía cầu
về hàng hóa và lao động; giá cả đầu vào ổn định, điều kiện kinh
doanh cải thiện (Việt Nam đã tăng 14 bậc Xếp hạng Môi trường Kinh doanh
2017), và nhiều nhà máy FDI đi vào hoạt động hết công suất là các
yếu tố thuận lợi từ bên cung. Đáng chú ý, lượng vốn FDI đăng ký mới
và bổ sung lên tới 30 tỷ USD, tăng hơn 50% so với 2016, là cơ sở cho mở
rộng sản xuất và tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo.
Để
duy trì đà tăng trưởng và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi
một tổ hợp chính sách có thiên hướng trung hòa (neutral) hơn trong giai
đoạn tới, để dành không gian chính sách ứng phó với các thách thức,
khó khăn. Lạm phát dự báo cao hơn 2017, khoảng 4.5%, do yếu tố làm
giảm lạm phát nhiều khả năng không còn (giá thịt lợn), trong khi ảnh
hưởng từ chi phí đẩy và cầu kéo sẽ đáng kể hơn. Với chủ trương bán
vốn, tỷ giá nhiều khả năng ổn định, thậm chí giảm nhẹ. Do đó, với
tài khóa, cải cách bộ máy dịch vụ công cần là nhiệm vụ ưu tiên
trong năm 2018 để giảm chi thường xuyên, trả lại trạng thái cân bằng
tài khóa đã vắng bóng nhiều năm và giảm bớt ảnh hưởng tới lạm
phát. Với tiền tệ, trong bối cảnh hệ thống dồi dào thanh khoản nhưng
lãi suất huy động trung dài hạn và nợ xấu có dấu hiệu tăng, thách
thức khả năng duy trì môi trường lãi suất thấp, ổn định tỷ giá, và
kiểm soát nợ xấu; đòi hỏi cần có các công cụ chính sách tiền tệ mới
và tăng cường giám sát an toàn tài chính.
Bài đã đăng trên Tạp chí Thế giới Toàn cảnh.
Nhận xét
Đăng nhận xét