Chuyển đến nội dung chính

Kinh tế Việt Nam 2017 và triển vọng 2018

Nền kinh tế Việt Nam có một năm khởi sắc, các cân đối vĩ mô cải thiện tích cực. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,81%; tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,24%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,53%, tỷ giá ngoại tệ ít biến động. Sau 5 năm đi lên, nền kinh tế đang tiến dần về đỉnh pha phục hồi của chu kỳ kinh tế. Đây là giai đoạn chứng kiến sản lượng công nghiệp tăng mạnh, niềm tin tiêu dùng và sức chi tiêu cao, tín dụng tăng nhanh, và lợi nhuận doanh nghiệp bứt phá dựa trên nền tảng mặt bằng lãi suất thấp và điều kiện kinh doanh cải thiện.
Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nằm ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CBCT) và ngành dịch vụ. GDP ngành CBCT và dịch vụ tăng lần lượt 14,4% và 7,4% so với 2016, đóng góp tương ứng 2,33 điểm và 2,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Vấp phải nhiều khó khăn, sản lượng ngành nông nghiệp tăng 2,9%, trong khi ngành khai khoáng giảm 7,1%.
Các chỉ số thường kỳ theo dõi tình trạng của ngành sản xuất cũng biểu thị một năm sôi động. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 9,4%, trong đó ngành CBCT tăng 14,5%, mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) duy trì trên 50 điểm xuyên suốt 2017, hàm ý các điều kiện của ngành sản xuất không ngừng cải thiện và duy trì được quán tính từ năm 2016. Nhu cầu thuê lao động theo đó cũng gia tăng, với số lao động trong ngành tăng 5% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, mức tăng sản lượng và lao động chủ yếu đóng góp bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngành dịch vụ khởi sắc nhờ lực đẩy từ tín dụng bán lẻ và niềm tin tiêu dùng gia tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 9,5% (đã loại trừ yếu tố giá), so với mức 7,8% năm 2016. Tiêu dùng cuối cùng – chủ yếu là chi tiêu của hộ gia đình và là cấu phần lớn nhất của tổng cầu – tăng 7,35%, xấp xỉ năm 2016. Xu hướng chú trọng đẩy mạnh bán lẻ của các ngân hàng và công ty tài chính cùng với sự bùng nổ của các chuỗi bán lẻ đã góp phần đẩy tín dụng tiêu dùng tăng tới 65% so với mức 50% năm 2016. Trong đó, tín dụng tập trung cho các khoản mục lớn như vay mua, sửa chữa nhà ở, thiết bị gia đình, và phương tiện đi lại. Sự lạc quan của người tiêu dùng đối với triển vọng kinh tế tích cực, thể hiện qua chỉ số niềm tin tiêu dùng đạt 117 điểm trong quý 2 và là mức cao nhất trong 5 năm, cũng khiến người dân sẵn sàng hơn trong chi tiêu cho các khoản mục lớn bên ngoài những nhu cầu thiết yếu. Chỉ số niềm tin cao gợi ý giai đoạn tăng trưởng khả quan của ngành bán lẻ còn kéo dài tối thiểu 6 tới 9 tháng nữa.

Cũng vào giai đoạn này, lạm phát thường có xu hướng tăng dần, cán cân ngân sách và cán cân thanh toán cải thiện, và các thị trường tài sản chuyển động tích cực.
Chỉ số giá tiêu dùng tăng bình quân 3,53%, cao hơn mức 2,7% năm 2016. Các cấu phần chính làm tăng lạm phát năm 2017 đều ở trong diện kiểm soát hoặc có điều tiết giá: dịch vụ y tế công cộng, dịch vụ giáo dục, và xăng dầu. Giá dịch vụ y tế tăng tại 31 tỉnh, thành phố khiến chỉ số giá nhóm này tăng bình quân 42%. Tương tự, chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 9,1% khi học phí tăng tại 5 tỉnh và 41 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Giá xăng dầu tăng liên tiếp trong 2 quý cuối năm, khiến chỉ số giá nhóm giao thông tăng 6,8%. Một yếu tố kìm hãm lạm phát trong năm là chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 2,6% do giá thịt lợn giảm mạnh.
Với thu ngân sách tăng cao và chi ngân sách tăng chậm hơn dự kiến (do giải ngân đầu tư công chậm), cán cân ngân sách cải thiện đáng kể, với tỉ lệ thâm hụt từ 4,3% GDP năm 2016 còn khoảng 2,3% năm 2017. Tổng thu ngân sách tăng 17% so với năm 2016, tăng trưởng đáng kể từ thu nhập cá nhân (20%), thu từ DN ngoài nhà nước (13%) và thu từ xuất nhập khẩu (25%), cho thấy thu ngân sách cải thiện đáng kể nhờ hoạt động kinh tế sôi động. Trong khi đó, tình hình sản xuất kinh doanh của phần lớn DNNN ít cải thiện khi thu từ các DNNN tăng khoảng 5%.
Cán cân thanh toán chuyển biến tích cực với thặng dư ghi nhận ở cán cân thương mại và tài chính. Hoạt động xuất nhập khẩu bứt phá mạnh với kim ngạch mỗi chiều tăng 21%, thặng dư thương mại hàng hóa đạt khoảng 3 tỷ USD. Cán cân tài chính thặng dư lớn nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 17,5 tỷ USD, tăng 11%. Với thặng dư lớn, dự trữ ngoại hối tăng lên khoảng 50 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay.
Lợi nhuận khả quan đẩy giá cổ phiếu và các chỉ số chứng khoán tăng mạnh, nhà đầu tư ngoại mua ròng giá trị lớn. Theo tổng hợp của SSI, tổng lợi nhuận sau thuế trong 9 tháng của 94% doanh nghiệp niêm yết trên sàn Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) tăng 22% so với cùng kỳ 2016. Trong cùng thời gian, chỉ số HOSE tăng 21%, còn chỉ số HNX tăng 34% so với cuối 2016; khối ngoại mua ròng hơn 13 nghìn tỷ đồng. Thị trường bất động sản giao dịch sôi động, tỷ lệ hấp thụ bình quân 80%, phân khúc bình dân lên tới 92%. Thị trường vàng ổn định, không ảnh hưởng tới kinh tế vĩ mô.
Năm 2018, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều thuận lợi để tiếp tục duy trì quán tính tăng trưởng. Bên ngoài, tăng trưởng toàn cầu được dự báo khả quan dựa trên sự nối tiếp đà hồi phục ở các nền kinh tế chủ chốt như EU, Nhật, và Mỹ trên nền lãi suất thấp; tăng trưởng kinh tế Trung Quốc vẫn tương đối cao, nhu cầu tiêu dùng nội địa gia tăng. Trong nước, nhu cầu tiêu dùng và dư địa tăng trưởng bán lẻ còn dồi dào cùng với đà giải ngân vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục thúc đẩy phía cầu về hàng hóa và lao động; giá cả đầu vào ổn định, điều kiện kinh doanh cải thiện (Việt Nam đã tăng 14 bậc Xếp hạng Môi trường Kinh doanh 2017), và nhiều nhà máy FDI đi vào hoạt động hết công suất là các yếu tố thuận lợi từ bên cung. Đáng chú ý, lượng vốn FDI đăng ký mới và bổ sung lên tới 30 tỷ USD, tăng hơn 50% so với 2016, là cơ sở cho mở rộng sản xuất và tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo.
Để duy trì đà tăng trưởng và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi một tổ hợp chính sách có thiên hướng trung hòa (neutral) hơn trong giai đoạn tới, để dành không gian chính sách ứng phó với các thách thức, khó khăn. Lạm phát dự báo cao hơn 2017, khoảng 4.5%, do yếu tố làm giảm lạm phát nhiều khả năng không còn (giá thịt lợn), trong khi ảnh hưởng từ chi phí đẩy và cầu kéo sẽ đáng kể hơn. Với chủ trương bán vốn, tỷ giá nhiều khả năng ổn định, thậm chí giảm nhẹ. Do đó, với tài khóa, cải cách bộ máy dịch vụ công cần là nhiệm vụ ưu tiên trong năm 2018 để giảm chi thường xuyên, trả lại trạng thái cân bằng tài khóa đã vắng bóng nhiều năm và giảm bớt ảnh hưởng tới lạm phát. Với tiền tệ, trong bối cảnh hệ thống dồi dào thanh khoản nhưng lãi suất huy động trung dài hạn và nợ xấu có dấu hiệu tăng, thách thức khả năng duy trì môi trường lãi suất thấp, ổn định tỷ giá, và kiểm soát nợ xấu; đòi hỏi cần có các công cụ chính sách tiền tệ mới và tăng cường giám sát an toàn tài chính.

Bài đã đăng trên Tạp chí Thế giới Toàn cảnh.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Barings – Một trường hợp về quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ

Hubert Edwards September 2014 Vào năm 1995, ngân hàng đầu tư lâu đời nhất của Anh với 200 năm tuổi đã ngừng hoạt động. Đó là ngân hàng Barings. Sự sụp đổ của ngân hàng là hậu quả từ hành động của một nhân viên kinh doanh công cụ phái sinh tên là Nick Leeson tại trụ sở Singapore. Nếu không xem xét cặn kẽ và có cân nhắc, bất cứ ai cũng có thể kết luận trách nhiệm hoàn toàn thuộc về anh nhân viên kia. Song người có tư duy phân tích có thể hỏi: Làm thế nào người đàn ông này lại có thể làm lụn bại một tên tuổi lớn của ngành tài chính? Đâu là vai trò của ban quản trị trong tình huống này và họ có góp phần vào sự sụp đổ không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả đến đâu và các bộ phận kinh doanh ở Singapore có được quản trị hiệu quả không? Câu trả lời cho những câu hỏi như trên và tương tư quả thực sẽ thú vị và có ích trong việc phân tích sự đổ vỡ hoàn toàn của Baring. Được tường thuật một cách rộng rãi trong những năm 90 của thế kỷ 20, sự sụp đổ của ngân hàng này vẫn để lại nh...

Lần này, suy thoái có đến sau lợi suất nghịch?

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 14-8, chỉ số Dow Jones (chỉ số đại diện cho cổ phiếu của 30 công ty niêm yết lớn nhất nước Mỹ) đã giảm 800 điểm so với giá đóng cửa phiên liền trước. Thị trường đã phản ứng mạnh ngay sau khi một trong những tín hiệu cảnh báo sớm về suy thoái kinh tế xuất hiện lần đầu kể từ năm 2007. Tín hiệu đó là lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã giảm xuống dưới lợi suất trái phiếu kỳ hạn hai năm, điều mà giới chuyên môn gọi là “lợi suất nghịch”. Đây là tín hiệu mà thị trường đã quan sát trong trạng thái dè chừng trong suốt hơn một năm qua, dù chỉ lóe lên trong chốc lát...   Lợi suất nghịch là gì? Đường cong lợi suất trái phiếu là tập hợp các điểm lợi suất của trái phiếu kho bạc tại các kỳ hạn khác nhau tại một thời điểm. Một đường cong lợi suất thường bao gồm lợi suất tại các kỳ hạn rất ngắn (một tháng) cho đến kỳ hạn rất dài (30 năm). Hình dạng, đô...