Trong một nỗ lực chống bán phá vào thị trường Mỹ và
lôi kéo các nhà sản xuất nước ngoài đặt nhà máy ở Mỹ, Tổng thống Trump quyết
định đánh thuế nhập khẩu 25% lên các sản phẩm thép và 10% lên nhôm từ tất
cả các nước, chỉ một tháng sau khi đặt hạn ngạch lên tấm pin điện mặt trời và
máy giặt.
Là một người luôn cho rằng các chính sách thương mại
đang làm tổn hại lợi ích của nước Mỹ, TT Trump chủ trương “Đưa nước Mỹ vĩ đại
trở lại” và “Nước Mỹ trước tiên” trong các quyết sách về kinh tế của mình trong
suốt thời gian tranh cử cho đến nay. Chủ đề nổi cộm trong chính sách thương mại
của TT Trump là đàm phán các hiệp định thương mại theo hướng có lợi cho nước Mỹ,
bên cạnh các chính sách bảo hộ đáp trả hành vi bán phá giá của các nước khác
vào thị trường Mỹ. Thuế suất đánh vào thép và nhôm được cho là màn dạo đầu
của chính sách bảo hộ này, do đó đã gây lo ngại trên toàn cầu về viễn cảnh
“cuộc chiến thương mại”. Sự leo thang các hành vi đáp trả có thể gây tổn hại
quán tính tăng trưởng của Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ, vốn là trụ cột của
kinh tế thế giới như Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc, và Nhật Bản.
Kể cả khi các chuyên gia kinh tế có chung nhận định
các ngành sản xuất của Mỹ đang đối mặt với các biện pháp cạnh tranh không lành
mạnh từ bên ngoài và giá nhập khẩu thấp một cách giả tạo, đa số đều phản đối
tăng thuế nhập khẩu. Chính sách bảo hộ gây lo ngại ngay ở Mỹ khi thấy rằng thuế
nhập khẩu gây thiệt hại cho Mỹ nhiều hơn là những lợi ích mang lại.
Tuy nhập siêu của Mỹ có xu hướng tăng và kéo dài, phần
lớn các nhà kinh tế không ủng hộ chính sách bảo hộ. Thứ nhất, hiện nay Mỹ có mức nhập siêu hàng hóa cao nhất thế giới, khoảng
800 tỷ USD; tuy nhiên với xuất siêu dịch vụ khoảng 240 tỷ USD, nhập siêu hàng
hóa và dịch vụ so với GDP chỉ chiếm 2,6% - một tỉ lệ không lớn. Thâm hụt thương
mại cũng có nghĩa người tiêu dùng hưởng lợi từ hàng nhập khẩu giá rẻ và thúc đẩy
chi tiêu vào các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng trong nước. Hơn nữa, thâm hụt
thương mại, hay thâm hụt cán cân vãng lai, được bù đắp hoàn toàn bởi thặng dư
trên cán cân tài chính, thông qua vay mượn quốc tế. Với nền kinh tế lớn, có xếp
hạng tín dụng an toàn, và các khoản nợ quốc tế thực hiện bằng đồng USD, nguy cơ
bất ổn từ gia tăng vay nợ đến kinh tế vĩ mô là không cao.
Thứ hai,
một nguyên nhân chính gây thâm hụt thương mại đến từ cấu trúc sự phân công lao
động toàn cầu. Khả năng phân đoạn quá trình sản xuất cho phép các công ty Mỹ
chuyển dịch các công đoạn lắp ráp, chế tạo – phần có biên lợi nhuận thấp, đòi hỏi
nhiều lao động – sang các nước (đang phát triển) có chi phí thấp hơn, để sau đó
hàng hóa thành phẩm được nhập khẩu trở lại Mỹ. Điều này góp phần duy trì tình
trạng nhập siêu lớn của Mỹ với các nước đang phát triển, cho dù các công ty Mỹ
có lợi nhuận lớn và duy trì lợi thế cạnh tranh với hàng hóa ‘không-do-người-Mỹ-thiết
kế’. Do thâm hụt có nguyên nhân cấu trúc, chính sách bảo hộ hầu như không thể đảo
ngược xu hướng nhập siêu, mà có thể làm tăng chi phí cho các nhà sản xuất Mỹ vốn
dựa một phần vào các yếu tố đầu vào giá rẻ hơn ở bên ngoài.
Thứ ba,
vấn đề thâm hụt thương mại có thể được tiếp cận một cách thông minh hơn. Các hiệp
định thương mại như NAFTA và TTP được thiết kế một cách khéo léo để giảm bớt ảnh
hưởng từ hàng hóa nhập khẩu giá rẻ đến từ bên ngoài khu vực kinh tế mà Mỹ có ảnh
hưởng (Bắc Mỹ và Thái Bình Dương), thông qua khái niệm quy tắc xuất xứ. Quy tắc
xuất xứ là bộ quy tắc xác định nguồn gốc quốc gia sản xuất ra hàng hóa và đủ điều
kiện hưởng thuế quan ưu đãi hay không. Điều này đảm bảo hàng hóa từ các nước
khác không “đội lốt” quốc gia thành viên của hiệp định thương mại được hưởng ưu
đãi thuế. Quyết định rút khỏi TPP của TT Trump dường như đang đi ngược lại mong
muốn giảm nhập siêu từ Trung Quốc hay EU.
Lịch sử cho thấy không nước nào “chiến
thắng” trong “cuộc chiến thương mại” như TT Trump tự tin tuyên bố trong một bài
đăng ở mạng xã hội Twitter. Thứ nhất,
thuế cao khiến các nhà sản xuất ở mọi nơi buộc phải mua đầu vào từ một nơi sản
xuất kém hiệu quả hơn, với chi phí cao hơn. Sản phẩm đội giá thành và giảm sức
cạnh tranh, dẫn tới ngành đó buộc phải thu hẹp. Cụ thể trong trường hợp này,
thuế sẽ gây thiệt hại trước tiên cho các ngành sản xuất sử dụng thép và nhôm của
Mỹ, vốn có quy mô lớn hàng chục lần ngành sản xuất thép và nhôm. Ngành sản xuất
thép và nhôm sử dụng khoảng 300.000 lao động, trong khi các ngành sử dụng thép
và nhôm như xây dựng, xe hơi, hàng không vũ trụ,… sử dụng đến 20 triệu lao động.
Theo một số đánh giá, sắc thuế này giúp tạo ra đến 2.000 việc làm trong ngành sản
xuất thép và nhôm nhưng sẽ làm giảm tới 150.000 việc làm trong các ngành sản xuất
sử dụng nhôm và thép.
Nhìn vào lịch sử có thể ước lượng được hậu quả của sắc
thuế này do Mỹ đã từng đánh thuế nhập khẩu thép vào năm 2002. Khi đó, TT Bush
(con) đánh thuế tới 30% lên các loại thép nhập khẩu để tạo điều kiện cho ngành
thép trong nước phục hồi. Một phân tích chỉ ra sắc thuế năm 2002 đã khiến
200.000 người mất việc làm trong các ngành sản xuất sử dụng thép – nhiều hơn
toàn bộ số việc làm trong ngành thép khi đó.
Ngoài ra, ngay trước khi sắc thuế có hiệu lực, không
chỉ có ngành sản xuất sử dụng thép và nhôm tăng cường thu gom nguyên liệu đầu
vào để dự trữ cho thời gian tới, trước sự bất trắc về dự định tăng thuế của
chính phủ trong tương lai, các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập khẩu khác cũng
chạy đua tích trữ. Trong ngắn hạn khi nguồn cung không đủ đáp ứng thì nhu cầu gia
tăng tạo ra cú sốc giá y như khi chính phủ đã tăng thuế nhập khẩu trên diện rộng.
Quyết định tăng thuế một loại hàng hóa vô tình tạo ra ảnh hưởng như khi tăng
thuế tổng thể, có thể tạo ra hiệu ứng ngược lên cán cân thương mại, khiến nhập
siêu tăng lên, cùng với đó là lạm phát. Việc tăng thuế
mà không thay đổi được cán cân thương mại có thể dẫn tới việc leo thang các quy
định bảo hộ và hạn chế thương mại.
Thứ hai,
không thể kỳ vọng các nước khác không đưa ra các biện pháp đáp trả. Thay vì trả đũa trên diện rộng, các nước thường
chọn đánh thuế lên các sản phẩm có tính thay thế cao (có thể nhập khẩu từ một
nước khác) và gây thiệt hại chính trị hơn là thiệt hại kinh tế. Cụ thể là thuế
sẽ nhắm vào các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của các bang tại hành lang công nghiệp
Trung Tây và Đông Bắc Mỹ đã và đang dành đa số sự ủng hộ chính trị cho TT Trump
và đảng Cộng hòa. Trong trường hợp EU và Mỹ không đi đến thỏa thuận về miễn thuế
thép, EU có thể sẽ xem xét đánh thuế lên thép, rượu bourbon và rum, quần jean,
nước cam, khoai tây, cà chua, và xe máy phân khối lớn. Nếu WTO phán quyết biện
pháp tăng thuế của Mỹ là phạm luật, EU có thể cân nhắc mở rộng quy mô trả đũa ở
giai đoạn tiếp theo.
Tương tự, Trung Quốc đã lên danh sách 128 hàng hóa của
Mỹ có thể chịu thuế (đáng kể trong danh sách có thịt lợn, rượu, hoa quả và
thép) nếu hai nước không tìm được tiếng nói chung. Đó là chưa kể các đòn bẩy mà
Trung Quốc có thể sử dụng như đậu tương, điện thoại, và xe hơi. Trung Quốc - điểm
đến của hơn một nửa đậu tương xuất khẩu của Mỹ - có thể thay thế đậu tương Mỹ bằng
đậu tương Brazil, gây thiệt hại cho nông dân trồng đậu tương – lực lượng ủng hộ
quan trọng của TT Trump. Trung Quốc cũng là nơi sản xuất và tiêu thụ phần lớn sản
phẩm điện tử của Apple và là thị trường tiêu thụ lớn nhất của xe hơi General
Motors trong 6 năm liền, vượt qua cả thị trường Mỹ. Bất cứ dự định trả đũa nào
hướng vào các ngành này đều khiến các doanh nghiệp và nông dân Mỹ thiệt hại nặng
nề.
Thứ ba,
sự trả đũa qua lại giữa các bên làm biến dạng thương mại và đầu tư, suy giảm
thu nhập, lòng tin tiêu dùng suy giảm. Thuế tăng truyền dẫn vào giá tiêu dùng
(lạm phát), tiêu dùng bị kìm hãm gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. Tiếp theo, các
phản ứng trả đũa về chính sách thuế sẽ dẫn tới cú sốc lạm phát ở nhiều nền kinh
tế và hàng hóa xuất khẩu của Mỹ bị thay thế. Đầu tư nước ngoài thu hẹp dần khi
nhà sản xuất cân nhắc khả năng mở nhà máy ở thị trường nội địa. Trong vòng xoáy
giá đầu vào tăng, xuất khẩu và đầu tư giảm khi cuộc chiến thương mại leo thang,
tác động tiêu cực tiếp tục cộng hưởng và lan truyền. Một nền kinh tế không có độ
mở thương mại lớn như Mỹ cũng không nằm ngoài quy luật này, và trước triển vọng
cuộc chiến thương mại leo thang, giới đầu tư đã thể hiện thái độ bi quan trên
thị trường tài chính. Sau tuyên bố đánh thuế lên thép, nhôm và tiếp đó là đánh
thuế lên một loạt hàng hóa công nghệ của Trung Quốc, chỉ số công nghiệp DJIA đã
giảm hơn 7%.
Có thể thấy các biện pháp phòng hộ thương mại của
chính quyền Mỹ hiện nay không thể hiện một cách tiếp cận sâu sắc và toàn diện về
cấu trúc kinh tế, năng lực cạnh tranh của kinh tế Mỹ và những động thái đáp trả
của các nước đối tác, đồng thời từ bỏ hệ thống thương mại quốc tế mà Mỹ đang dẫn
dắt và ảnh hưởng. Trong hệ thống kinh tế dựa trên các nguyên tắc bình đằng và tự
do mua bán, nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên tương thuộc lẫn nhau, do dó việc
đơn phương thực thi một chính sách chỉ có lợi cho mình có thể dẫn tới các hệ lụy
sâu rộng, bào mòn ảnh hưởng dẫn dắt và “sức mạnh mềm” của Mỹ.
Là một nền kinh tế có động lực tăng trưởng chính là
khu vực xuất khẩu, có độ mở thương mại lớn, và có thặng dư hàng hóa với Mỹ đứng
thứ 6, Việt Nam cần nghiêm túc tính tới hậu quả trực tiếp và gián tiếp tới nền
kinh tế và khả năng bị đặt trong tầm ngắm trong cuộc chiến thương mại. Trong bối
cảnh chính sách tiền tệ và tài khóa đang nới lỏng như hiện nay, không gian
chính sách cho các biện pháp can thiệp là tương đối hạn chế.
Nhận xét
Đăng nhận xét