Chuyển đến nội dung chính

Pha trà kiểu Á 101

Thế nào là kiểu Á: tỉ lệ trà/nước cao, pha làm nhiều lần, thời gian ngâm ủ ngắn

Cần gì? Khởi đầu với những thứ cơ bản: trà, nước, ấm, chén. Các thứ khác ảnh hưởng tới trải nghiệm khi pha và uống, không nhất thiết cải thiện chất lượng của trà.

Cách pha: Dùng 5g trà cho ~200ml nước và pha với nhiệt độ nước và thời gian dưới đây. Hãy dùng bảng này là điểm bắt đầu, không nhất thiết phải tuân theo chính xác.

Loại trà

Nhiệt độ pha

Thời gian ngâm

 

 

Nước 1

Nước 2-3

Nước 4 trở đi

Xanh

65-75 độ C

1p30s

1p15s

1p30-2p

Oolong

90-100 độ C

1p30s

1p

+30s mỗi lần pha sau

Hồng trà

95-100 độ C

1p30s

1p15s

+30s mỗi lần pha sau

Phổ nhĩ

80-100 độ C

2p

1p30s

+30s mỗi lần pha sau

Bạch trà

70-90 độ C

2p30s

Thành quả: nước trà trong, sáng, ít cặn, có hương thơm và vị ngọt, ít chát, hậu vị dễ chịu.

Ba yếu tố tùy biến được trong khi pha là nhiệt độ nước, lượng trà và thời gian ngâm ủ. Pha trà theo hướng dẫn trên và và điều chỉnh cho hợp khẩu vị bằng cách nên tăng/giảm một yếu tố, giữ nguyên các yếu tố còn lại và nếm thử cho tới khi cảm thấy thỏa mãn. Ghi chép lại để dần ghi nhớ cho các lần pha sau này.

  • Nước trà không rõ vị => kéo dài thời gian ngâm ủ (30s một)
  • Hương vị có rồi nhưng muốn đậm hơn => tăng lượng lá trà (giữ nguyên lượng nước)
  • Đậm rồi nhưng muốn nhiều lớp hương vị hơn => tăng nhiệt độ pha.
  • Điều chỉnh thời gian ngâm hay lượng trà sử dụng có thể làm tăng hoặc giảm độ đậm tổng thể của nước trà, điều chỉnh nhiệt độ sẽ ảnh hưởng đến hương vị.
I/Nước
Trong nước trà thì 98% là nước, 2% là chất hòa tan từ trà nên dùng nước sạch, mềm (hàm lượng canxi/magie, TDS thấp <60), trung tính (pH quanh 7) và phải là nước chưa được đun sôi. Nếu nguồn nước trực tiếp có mùi, không trong, hoặc bị cứng (ấm đun đóng cặn trắng) thì nên sử dụng nước từ máy lọc nước. Nếu điều kiện không cho phép thì mới dùng tới nước đóng chai, lúc này nên dùng loại có TDS thấp như Aquafina, Dasani.

*TDS: tổng lượng chất rắn hòa tan

II/Nhiệt độ nước

Tăng nhiệt độ nước làm tăng động năng của các phân tử nước, cho phép chúng khuếch tán các phân tử chất hòa tan hiệu quả hơn, nhanh hơn. Độ hòa tan của các loại trà khác nhau đạt đỉnh ở các nhiệt độ khác nhau. Thành phần các chất hòa tan trong nước trà pha ở các nhiệt độ khác nhau sẽ khác nhau, đôi khi rất khác nhau, và hương vị cũng rất khác biệt.

Các loại trà trải qua ít quá trình biến đổi ít hơn như trà xanh, trà vàng hay phổ nhĩ sống, thường có nhiệt độ pha lý tưởng thấp hơn so với các loại trà trải qua sự biến đổi nhiều hơn như hồng trà hay phổ nhĩ lâu năm. Một số loại biến đổi hình dáng như olong hay lá dày, cứng như nham trà cũng cần nhiệt độ cao hơn để chiết xuất tốt hơn.

Cách lí tưởng nhất để kiểm soát nhiệt độ nước pha vào ấm là dùng ấm siêu tốc có thể điều chỉnh nhiệt độ. Thứ nhì là dùng nhiệt kế thực phẩm. Thứ ba là để nguội một thời gian kể từ lúc sôi: khoảng 1 phút nhiệt độ về còn 90-95 độ C, 3-5 phút về khoảng 60-70 độ C tùy vào nhiệt độ xung quanh. Thứ tư là quan sát nước khi đang đun: bong bóng sẽ to dần từ li ti như mắt tôm (70 độ), rồi cỡ mắt cá (85-90 độ), và sôi sùng sục (100 độ), tuy nhiên lời khuyên là đun sôi nước rồi để nguội khi pha trà xanh hay oolong.

III/Lượng trà

Lượng lá trà sẽ ảnh hưởng đến độ đậm của nước trà. Thêm nhiều lá trà hơn vào cùng một lượng nước sẽ làm tăng diện tích tiếp xúc của lá trà với nước, đồng nghĩa với việc tăng lượng hợp chất có thể hòa tan vào nước. Như nhiều người đã biết, dùng nhiều lá trà hơn sẽ khiến nước trà đậm đà hơn. Tuy nhiên, vẫn có thể đạt được có độ đậm mong muốn với một lượng lá ít hơn bằng cách kéo dài thời gian ngâm.

IV/ Thời gian ngâm

Thời gian ngâm là khoảng thời gian lá trà tiếp xúc với nước - khoảng thời gian diễn ra sự hòa tan các chất trong lá trà vào nước, còn gọi là khuếch tán thẩm thấu. Các hợp chất trên bề mặt lá và trong các tế bào bên trong bị tổn thương do quá trình chế biến sẽ khuếch tán vào chất lỏng xung quanh cho đến khi các hợp chất trong lá và nước đạt đến trạng thái cân bằng, có nghĩa là nồng độ của các hợp chất trong lá sẽ giống như nồng độ của chúng trong nước. Trạng thái này không nhất thiết khiến cho nước trà ngon miệng để thưởng thức.

Hơn nữa, quá trình khuếch tán thẩm thấu không xảy ra cùng một lúc – các hợp chất khác nhau đi vào nước với tốc độ khác nhau dựa trên trọng lượng phân tử của chúng. Các chất hóa học nhẹ, dễ bay hơi góp phần tạo nên hương thơm và hương vị của trà tan nhanh nhất, đó là lý do tại sao mùi lá trà trở nên mạnh hơn khi pha vào nước. Nhóm hợp chất tiếp theo hòa vào nước bao gồm các vi chất dinh dưỡng flavanols và polyphenol, cũng là những chất chống oxy hóa, và caffein. Tiếp theo là các flavanols và polyphenol nặng hơn như tannin, là những hợp chất tạo nên hương vị đắng chát của trà (tannin cũng là thứ khiến miệng bị khô sau khi uống trà hay rượu vang) Trà cũng có các axit amin như theanine, có thể bù đắp độ chát của tannin.  Vì vậy cần điều chỉnh thời gian ngâm để kiểm soát nồng độ của các hợp chất trong nước trà.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Barings – Một trường hợp về quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ

Hubert Edwards September 2014 Vào năm 1995, ngân hàng đầu tư lâu đời nhất của Anh với 200 năm tuổi đã ngừng hoạt động. Đó là ngân hàng Barings. Sự sụp đổ của ngân hàng là hậu quả từ hành động của một nhân viên kinh doanh công cụ phái sinh tên là Nick Leeson tại trụ sở Singapore. Nếu không xem xét cặn kẽ và có cân nhắc, bất cứ ai cũng có thể kết luận trách nhiệm hoàn toàn thuộc về anh nhân viên kia. Song người có tư duy phân tích có thể hỏi: Làm thế nào người đàn ông này lại có thể làm lụn bại một tên tuổi lớn của ngành tài chính? Đâu là vai trò của ban quản trị trong tình huống này và họ có góp phần vào sự sụp đổ không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả đến đâu và các bộ phận kinh doanh ở Singapore có được quản trị hiệu quả không? Câu trả lời cho những câu hỏi như trên và tương tư quả thực sẽ thú vị và có ích trong việc phân tích sự đổ vỡ hoàn toàn của Baring. Được tường thuật một cách rộng rãi trong những năm 90 của thế kỷ 20, sự sụp đổ của ngân hàng này vẫn để lại nh...

Kinh tế Việt Nam 2017 và triển vọng 2018

Nền kinh tế Việt Nam có một năm khởi sắc, các cân đối vĩ mô cải thiện tích cực. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,81%; tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,24%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,53%, tỷ giá ngoại tệ ít biến động. Sau 5 năm đi lên, nền kinh tế đang tiến dần về đỉnh pha phục hồi của chu kỳ kinh tế. Đây là giai đoạn chứng kiến sản lượng công nghiệp tăng mạnh, niềm tin tiêu dùng và sức chi tiêu cao, tín dụng tăng nhanh, và lợi nhuận doanh nghiệp bứt phá dựa trên nền tảng mặt bằng lãi suất thấp và điều kiện kinh doanh cải thiện. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nằm ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CBCT) và ngành dịch vụ. GDP ngành CBCT và dịch vụ tăng lần lượt 14,4% và 7,4% so với 2016, đóng góp tương ứng 2,33 điểm và 2,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Vấp phải nhiều khó khăn, sản lượng ngành nông nghiệp tăng 2,9%, trong khi ngành khai khoáng giảm...

Lần này, suy thoái có đến sau lợi suất nghịch?

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 14-8, chỉ số Dow Jones (chỉ số đại diện cho cổ phiếu của 30 công ty niêm yết lớn nhất nước Mỹ) đã giảm 800 điểm so với giá đóng cửa phiên liền trước. Thị trường đã phản ứng mạnh ngay sau khi một trong những tín hiệu cảnh báo sớm về suy thoái kinh tế xuất hiện lần đầu kể từ năm 2007. Tín hiệu đó là lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã giảm xuống dưới lợi suất trái phiếu kỳ hạn hai năm, điều mà giới chuyên môn gọi là “lợi suất nghịch”. Đây là tín hiệu mà thị trường đã quan sát trong trạng thái dè chừng trong suốt hơn một năm qua, dù chỉ lóe lên trong chốc lát...   Lợi suất nghịch là gì? Đường cong lợi suất trái phiếu là tập hợp các điểm lợi suất của trái phiếu kho bạc tại các kỳ hạn khác nhau tại một thời điểm. Một đường cong lợi suất thường bao gồm lợi suất tại các kỳ hạn rất ngắn (một tháng) cho đến kỳ hạn rất dài (30 năm). Hình dạng, đô...