Chuyển đến nội dung chính

Mùi vị trong trà

Khi nói đến trà, vị đắng, vị ngọt và vị ngọt thịtt là các vị chính, mặn và chua hiếm khi gặp. Nói chung, mọi người thích vị ngọt và vị umami, và không thích vị đắng, hoặc ít nhất là vị đắng quá mức. Thực tế đơn giản này định hình cách chúng ta trồng, chế biến, phân loại, pha và thưởng thức trà.

Vị đắng trong trà
Các hợp chất chính tạo vị đắng trong trà là catechin: một nhóm các chất hóa học mà cây sử dụng để tự bảo vệ khỏi bị cháy nắng và sự phát triển của nấm. Catechin cũng là dạng chất chống oxy hóa chính được tìm thấy trong trà xanh, phổ biến nhất là ở dạng epicatechin (EC) và epigallocatechin (ECGC). Mặc dù tốt cho sức khỏe của bạn, chúng là một số hợp chất đắng nhất trong trà. Khi lá trà bị oxy hóa, ví dụ như để tạo ra trà đen, các catechin này liên kết với nhau để tạo thành polyphenol lớn hơn, còn được gọi là tannin, mang lại cho trà đen hương vị đặc biệt, độ chát và màu đỏ. Điều này có nghĩa là catechin tồn tại ở nồng độ cao nhất trong trà xanh.

Đối với các loại trà xanh Nhật Bản, catechin chiếm khoảng 11-17% thành phần hòa tan trong nước của lá trà đã qua chế biến. Đối với sencha, con số này thường là khoảng 15-17%, trong khi con số này ở các loại trà được phủ bóng râm như gyokuro là khoảng 11-12%, đó là một lý do tại sao gyokuro ít đắng hơn sencha.

Một hợp chất có vị đắng khác là caffeine. Mặc dù không đắng bằng hay có nhiều trong lá trà như catechin, caffeine liên kết với ít nhất 6 thụ thể phát hiện vị đắng khác nhau trên lưỡi. Tuy nhiên, cảm nhận về vị đắng của nó khác nhau ở mỗi người do đột biến gen. Đột biến này được tìm thấy ở hơn 90% người gốc Đông Á, 75% người gốc châu Âu và 10-30% người gốc Phi.

Umami trong trà
Là tâm điểm và đặc điểm xác định của hầu hết các loại trà xanh Nhật, umami là vị đậm đà, dễ chịu, ngọt thịt có rất nhiều trong matcha và gyokuro (do được phủ bóng râm), nhưng vẫn có nhiều trong sencha và các loại trà xanh khác.

Umami có nguồn gốc từ các axit amin, là thành phần cấu tạo của protein. Theanine hoặc L-theanine cho đến nay là axit amin phong phú nhất trong trà, chiếm hơn một nửa tổng số axit amin (và trên thực tế, nó được đặt theo tên của trà, khi nó lần đầu tiên được phân lập từ lá gyokuro). Theanine có vị ngọt và umami, và khi được tiêu thụ với caffeine (như trong trà), nó dường như hoạt động cùng với caffeine để tạo ra tác dụng làm dịu và giúp tâm trí tập trung.

Ngoài ra, theanine chịu trách nhiệm phần lớn cho cảm giác kokumi - cảm giác miệng phong phú, tràn đầy sức sống của một số loại trà.

Các axit amin khác được tìm thấy trong trà là axit Glutamic, axit Aspartic và Arginine.

Các axit amin thường chiếm khoảng 2-3% trong sencha và 4-5% trong gyokuro và matcha. Tuy nhiên, một số loại trà cực kỳ cao cấp có thể có lượng axit amin trên 10%!

Vị ngọt trong trà
Tất nhiên vị ngọt đến từ các loại đường, chẳng hạn như sucrose, fructose và glucose, cả ba đều được tìm thấy trong trà, là sản phẩm của quá trình quang hợp.
Tuy nhiên, các axit amin cũng có thể liên kết với các cơ quan cảm nhận vị ngọt, có nghĩa là các loại trà có vị umami cao cũng có vị ngọt hơn.

Có một loại ngọt đặc biệt khác liên quan đến trà: hậu vị ngọt. Được gọi là hui gan (回 甘 - hồi cam) trong tiếng Trung Quốc và yoin (余韻 - hào quang) trong tiếng Nhật, hiệu ứng này có thể được tạo ra bởi một số hợp chất. Một trong số đó là axit 2,4-dihydroxybenzoic được tìm thấy với số lượng cao hơn trong các loại trà được phủ trong bóng râm, làm tăng thêm vị ngọt của chúng.

Hương thơm trong trà
Các hợp chất mùi thơm chen chúc nhau trong trà, thậm chí còn được tạo ra qua các công đoạn và phong cách chế biến khác nhau. Dưới đây là một số hợp chất mùi thơm phổ biến nhất trong trà xanh Nhật Bản:

Dimethyl sulphide: hương rong biển
β-ionone: hương hoa mà chỉ khoảng 50% người có thể phát hiện ra
Nerolidol: hương thơm tươi, xanh
Safranal: giống như tên gọi của nó, một mùi thơm của nghệ tây
β-damascenone: hương thơm trái cây/hoa hồng ngọt ngào
Benzaldehyde: hương hạnh nhân/trái cây
Rượu benzyl: hương hoa hồng/quả hạch
2-phenylethanol: hương hoa hồng, nhưng khi kết hợp với β-damascenone tạo ra mùi thơm mật ong
Geraniol: hương hoa hồng
Cis-3-hexenol: hương thơm mùa xuân tươi mát
Cis-3-hexenal: hương xanh, hương thơm cỏ đậm hơn nữa, một phần của ‘hương trà vụ đầu’
Linalool: hương hoa khác nhau ở các dạng khác nhau
Jasmine Lactone: hương trái cây, hương đào
Limonene: hương cam quýt
Coumarin: hương hoa anh đào, vani, quế
Pyrazines: vị cay hoặc mùi thơm (đặc biệt trong houjicha)

Nguồn: Tezumi

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Barings – Một trường hợp về quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ

Hubert Edwards September 2014 Vào năm 1995, ngân hàng đầu tư lâu đời nhất của Anh với 200 năm tuổi đã ngừng hoạt động. Đó là ngân hàng Barings. Sự sụp đổ của ngân hàng là hậu quả từ hành động của một nhân viên kinh doanh công cụ phái sinh tên là Nick Leeson tại trụ sở Singapore. Nếu không xem xét cặn kẽ và có cân nhắc, bất cứ ai cũng có thể kết luận trách nhiệm hoàn toàn thuộc về anh nhân viên kia. Song người có tư duy phân tích có thể hỏi: Làm thế nào người đàn ông này lại có thể làm lụn bại một tên tuổi lớn của ngành tài chính? Đâu là vai trò của ban quản trị trong tình huống này và họ có góp phần vào sự sụp đổ không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả đến đâu và các bộ phận kinh doanh ở Singapore có được quản trị hiệu quả không? Câu trả lời cho những câu hỏi như trên và tương tư quả thực sẽ thú vị và có ích trong việc phân tích sự đổ vỡ hoàn toàn của Baring. Được tường thuật một cách rộng rãi trong những năm 90 của thế kỷ 20, sự sụp đổ của ngân hàng này vẫn để lại nh...

Kinh tế Việt Nam 2017 và triển vọng 2018

Nền kinh tế Việt Nam có một năm khởi sắc, các cân đối vĩ mô cải thiện tích cực. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,81%; tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,24%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,53%, tỷ giá ngoại tệ ít biến động. Sau 5 năm đi lên, nền kinh tế đang tiến dần về đỉnh pha phục hồi của chu kỳ kinh tế. Đây là giai đoạn chứng kiến sản lượng công nghiệp tăng mạnh, niềm tin tiêu dùng và sức chi tiêu cao, tín dụng tăng nhanh, và lợi nhuận doanh nghiệp bứt phá dựa trên nền tảng mặt bằng lãi suất thấp và điều kiện kinh doanh cải thiện. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nằm ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CBCT) và ngành dịch vụ. GDP ngành CBCT và dịch vụ tăng lần lượt 14,4% và 7,4% so với 2016, đóng góp tương ứng 2,33 điểm và 2,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Vấp phải nhiều khó khăn, sản lượng ngành nông nghiệp tăng 2,9%, trong khi ngành khai khoáng giảm...

Lần này, suy thoái có đến sau lợi suất nghịch?

Đóng cửa phiên giao dịch ngày 14-8, chỉ số Dow Jones (chỉ số đại diện cho cổ phiếu của 30 công ty niêm yết lớn nhất nước Mỹ) đã giảm 800 điểm so với giá đóng cửa phiên liền trước. Thị trường đã phản ứng mạnh ngay sau khi một trong những tín hiệu cảnh báo sớm về suy thoái kinh tế xuất hiện lần đầu kể từ năm 2007. Tín hiệu đó là lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm đã giảm xuống dưới lợi suất trái phiếu kỳ hạn hai năm, điều mà giới chuyên môn gọi là “lợi suất nghịch”. Đây là tín hiệu mà thị trường đã quan sát trong trạng thái dè chừng trong suốt hơn một năm qua, dù chỉ lóe lên trong chốc lát...   Lợi suất nghịch là gì? Đường cong lợi suất trái phiếu là tập hợp các điểm lợi suất của trái phiếu kho bạc tại các kỳ hạn khác nhau tại một thời điểm. Một đường cong lợi suất thường bao gồm lợi suất tại các kỳ hạn rất ngắn (một tháng) cho đến kỳ hạn rất dài (30 năm). Hình dạng, đô...