bản gốc tại đây: CATO
So sánh cơ chế tỷ giá cố
định với cơ chế tỷ giá thả nổi
Peter B. Kenen[1]
Trong những năm 90 của thế kỷ 20 xuất hiện một sự đồng thuận
mới về chế độ tỷ giá. Các chính phủ phải chọn giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố
định. Neo tỷ giá có điều chỉnh, như trong hệ thống Bretton Woods và Hệ thống Tiền
tệ Châu Âu (EMS) trước 1993, không còn khả thi bởi khả năng tổn thương trước
các đợt tấn công đầu cơ. Lưu ý rằng tôi thay thế thuật ngữ tỷ giá “linh hoạt” bằng
tỷ giá “thả nổi”, vì nhiều người đồng tình với đồng thuận mới chưa hoàn toàn bị
thuyết phục rằng thị trường hiểu biết hơn các chính phủ và không từ bỏ can thiệp
để tác động lên tỷ giá được thị trường điều chỉnh. Quả thực, một vài người tiếp
tục tin rằng khống chế tỷ giá xung quanh tỷ lệ mục tiêu (wide-band target zone)
hay dao động quanh một tỷ lệ có điều chỉnh định kỳ (crawling bands) vẫn còn khả
thi.
Tôi đồng tình với đồng thuận mới này trong chừng mực nó cảnh
báo phải tránh áp dụng neo tỷ giá có điều chỉnh, dẫu là chính thức như trường hợp
của EMS hay không chính thức như trường hợp của các nước châu Á mà trên thực tế
đã duy trì việc neo đồng tiền của mình vào đồng dollar Mỹ trước cuộc khủng hoảng
gần đây. Tuy nhiên, đồng thuận này dường như gợi ý rằng tỷ giá cố định là khả
thi và có lí, dù riêng tôi có chút e dè. Với tất cả các quốc gia, trừ những nước
nhỏ chỉ như nền kinh tế phụ thêm của các nước lớn hơn và tốt hơn là sử dụng
luôn đồng tiền của nước lớn, cơ chế tỷ giá linh hoạt là phù hợp hơn.
Nhiều luận cứ được đưa ra ủng hộ việc neo tỷ giá cố định. Tất
cả đều có căn cứ nhất định, nhưng các luận cứ không có tính thuyết phục, dù đặt
riêng hay gộp chung với nhau.
Chi phí thực của biến động
tỷ giá
Luận cứ đầu tiên thường được dẫn ra nhằm phản đối tỷ giá linh
hoạt nhưng cũng được áp dụng được với tỷ giá có điều chỉnh. Sự bất trắc gây ra
bởi biến động tỷ giá có tác dụng như một loại thuế đánh lên thương mại và, quan
trọng hơn, thuế đánh lên việc đầu tư vào các ngành sản xuất hàng hóa thương mại.
Cho dù có thể phòng hộ rủi ro tỷ giá bằng việc sử dụng các công cụ phái sinh, bạn
không thể phòng hộ hoàn toàn trừ phi bạn biết quy mô chịu rủi ro ngoại tệ. Tuy
nhiên, một thay đổi trong tỷ giá ảnh hưởng không chỉ tới giá trị bằng đồng nội
tệ của các hóa đơn và khoản thanh toán bằng ngoại tệ trong tương lai mà còn đến
giá trị bằng đồng ngoại tệ thông qua tác động đến quy mô và giá trị của dòng
thương mại trong tương lai. Các nghiên cứu
thực nghiệm về độ bất trắc của tỷ giá chưa tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về tác động
tiêu cực lên dòng thương mại hay đầu tư, dù các nghiên cứu về nước đang phát
triển tìm thấy ảnh hưởng mạnh hơn các nghiên cứu về các nước công nghiệp. Tuy
nhiên, trong đa số các nghiên cứu này, bao gồm cả của tôi, độ bất trắc tỷ giá
được đo bởi độ biến thiên trong ngắn hạn của tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực,
bởi vì thật khó để tìm ra một thước đo phù hợp cho một hiện tượng thích đáng
hơn là sự bất trắc của tỷ giá thực trong dài hạn. Vì thế vấn đề còn đang bỏ ngỏ.
Luận cứ thứ hai cho tỷ giá cố định cho rằng sự thay đổi trong
tỷ giá gây ra sức ép bảo hộ và do đó có thể cản trở khai thác lợi ích từ thương
mại. Luận cứ này cứ định kỳ lại nổi lên trong những hoàn cảnh khác hẳn nhau.
Quyết định bảo trợ Hiệp ước Plaza năm 1985 của Mỹ thường được quy cho sự gia
tăng sức ép bảo hộ bắt nguồn từ sự tăng giá của đồng dollar trước đó. Một thập
kỷ sau, tại châu Âu, sức ép bảo hộ gây ra bởi sự thay đổi tỷ giá đầu thập niên
90 của thế kỷ 20 thường được lấy làm dẫn chứng bởi những người ủng hộ liên minh
tiền tệ, rằng ấn định tỷ giá là cách duy nhất cách ly Thị trường chung châu Âu[2]
khỏi những áp lực như vậy trong tương lai. Cuối cùng, sự mất giá đồng real của
Brazil vào năm 1999 khiến Argentina dựng lên hàng rào thương mại làm chậm lại
và đe dọa đảo ngược quá trình tự do hóa thương mại của khối MECOSUR[3].
Luận cứ này, giống luận cứ đầu, không thể bác bỏ thẳng thừng. Tuy nhiên cần lưu
ý rằng cố định tỷ giá tước đi hai công cụ đắc lực của chính phủ, tỷ giá danh
nghĩa và chính sách tiền tệ, và do đó chính phủ có thể cảm thấy rất muốn áp dụng
chính sách thương mại “lợi mình hại người” để đối phó với các cú sốc làm giảm sản
lượng.
Tỷ giá cố định và kỷ luật
tiền tệ
Luận cứ cuối cùng ủng hộ tỷ giá cố định liên quan đến tác động
của cơ chế tỷ giá với chất lượng của chính sách tiền tệ. Luận cứ này có nhiều lối
giải thích.
Lối giải thích thứ nhất nói rằng một tỷ giá cố định sẽ trung
hòa các cú sốc tiền tệ, bao gồm cả những cú sốc gây ra bởi ngân hàng trung ương
thiếu năng lực. Một nước có tỷ giá cố định sẽ “nhập khẩu” hoặc “xuất khẩu” tiền
một cách tự động bất cứ khi nào có một sự chuyển dịch trong cầu hoặc cung và
như thế ngăn chặn ảnh hưởng của cú sốc tiền tệ lên nền kinh tế. Tuy nhiên, luận
điểm này chỉ đúng trong trường hợp vốn di chuyển hoàn hảo. Tình trạng dư cung
tiền sẽ khiến vốn chảy ra ngoài và giảm dự trữ, điều này dẫn tới giảm cung tiền
bằng một lượng vừa đủ để loại bỏ sự dư cung tiền. Tương tự, tình trạng dư cầu
tiền kéo theo dòng vốn chảy vào, và sự gia tăng dự trữ sẽ tăng cung tiền một lượng
vừa đủ để thỏa mãn nhu cầu tiền gia tăng. Không có hiệu quả nào khác đối với nền
kinh tế trong nước. Tuy nhiên, do luận cứ này có tính đối xứng, nó có một mặt tối.
Nếu ngân hàng trung ương nước bạn kém năng lực hơn ngân hàng trung ương nước
tôi, bạn nên cố định đồng tiền của nước bạn vào đồng tiền của nước tôi, và đẩy
ra ngoài những sai lầm của ngân hàng trung ương của bạn. Tuy nhiên, nếu ngân
hàng trung ương của bạn có năng lực hơn ngân hàng trung ương của tôi, thì việc
bạn neo đồng tiền của nước bạn vào đồng tiền của nước tôi sẽ khiến cho nước bạn
nhập khẩu những sai lầm gây ra bởi ngân hàng trung ương của tôi. Việc này dĩ
nhiên bộc lộ điểm yếu của luận cứ. Nó không đúng cho mọi trường hợp, một lí do
để cố định tỷ giá toàn cầu, trừ phi tất cả ngân hàng trung ương đều có năng lực
như nhau và sai lầm của họ không tương quan. Mỗi nước sẽ chia sẻ hậu quả từ sự
sai lầm của nước khác và được bù đắp bởi khả năng san sẻ hậu quả từ lỗi lầm của
nó với các nước còn lại.
Lối giải thích thứ hai cũng dựa trên giả định rằng một số
ngân hàng trung ương kém năng lực hơn các ngân hàng khác và có mức độ tín nhiệm
thấp hơn. Luận cứ cho rằng các ngân hàng kém hơn này có thể nhập khẩu độ khả
tín từ những người đồng nhiệm bằng cách cố định tỷ giá và vì thế đồng ý nương
theo chính sách tiền tệ của ngân hàng có năng lực hơn. Chiến lược này được thực
hiện bởi nhiều ngân hàng trung ương của các nước châu Âu, họ neo đồng tiền của
mình và đồng mark Đức để nhằm nhập khẩu độ tín nhiệm của Ngân hàng Liên bang Đức[4].
Họ có thành công không? Thật khó kết luận. Tỷ lệ lạm phát ở châu Âu giảm mạnh
trong những năm 1980 và đạt mức thấp như nước Đức vào cuối những năm 1990. Tuy
nhiên tỷ lệ lạm phát cũng giảm mạnh ở các nước khác, bao gồm Anh và Mỹ, và
không thể chỉ ra bằng phương pháp kinh tế lượng rằng tác động của hệ thống EMS là
đáng kể. Hơn nữa, các yếu tố logic cơ bản của luận cứ là yếu. Tại sao chính
sách ấn định tỷ giá lại đáng tin hơn việc đặt hẳn lạm phát mục tiêu[5]?
Một tỷ giá mục tiêu có thể minh bạch hơn và khó bị bóp méo hơn một tỷ lệ lạm
phát mục tiêu. Tuy nhiên, nó cũng dễ tổn thương, bởi một cuộc tấn công vào tỷ
giá cố định có thể thúc ép việc bãi bỏ chế độ neo tỷ giá bằng cách làm cạn dự
trữ quốc gia. Ngược lại, sự gia tăng đột ngột trong lạm phát không thể thúc ép
bãi bỏ tỉ lệ lạm phát mục tiêu.
Đến lúc này có thể bàn về chế độ neo tỷ giá cứng (currency
board). Thử tưởng tượng ngân hàng trung ương có hai bàn tay – một bàn tay vận
hành thị trường hối đoái, và bàn tay kia vận hành thị trường tiền tệ trong nước.
Chế độ tỷ giá cố định trói một tay lại. Ngân hàng trung ương phải can thiệp để
giữ cho tỷ giá không đổi. Bản thân chế độ tỷ giá cố định không trói nốt tay còn
lại. Ngân hàng trung ương vẫn có thể thực hiện các nghiệp vụ thị trường tiền tệ
để tác động tới lãi suất, hỗ trợ các ngân hàng khỏi khủng hoảng thanh khoản, hoặc
cứu chính phủ khỏi rắc rối trong chính sách tài khóa. Tuy nhiên, chế độ neo tỷ
giá sẽ trói nốt bàn tay kia lại. Ngân hàng trung ương không thể mua hay bán các
tài sản bằng đồng nội tệ; không thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, cho các
ngân hàng trong nước vay, hay cho chính phủ vay. Do vậy, ngân hàng trung ương
không thể trung hòa tác động của các nghiệp vụ của mình trên thị trường hối
đoái hay kể cả làm nhẹ tác động từ các nghiệp vụ đó lên thanh khoản hệ thống
ngân hàng. Vì lí do đó, một cuộc tấn công vào đồng peso của Argentina trong cuộc
khủng hoảng ở Mexico giai đoạn 1994-95 gây ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng chính
thức. Chế độ tỷ giá cố định tai qua nạn khỏi. Các ngân hàng thì không. Hơn nữa,
thành công của Argentina trong việc duy trì tỷ giá cố định đã không bảo vệ nó 4
năm sau, khi cuộc khủng hoảng ở Brazil giai đoạn 1998-99 kích hoạt một cuộc tấn
công nữa vào đồng peso.
Chế độ tỷ giá cố định
và chính sách giảm lạm phát
Lối giải thích thứ ba của luận cứ này có liên quan chặt chẽ đến
cách thứ hai. Nó phát biểu rằng việc neo tỷ giá có thể áp dụng để làm giảm lạm
phát nhanh và mạnh khi một nước đã gánh chịu lạm phát cao dai dẳng – kể cả siêu
lạm phát. Luận cứ này kết hợp hai yếu tố. Một mặt, neo tỷ giá và việc mua đi
bán lại trên thị trường hàng hóa làm bình ổn giá của hàng hóa thương mại. Nói
cách khác, nó dựa trên một thực tế rằng lạm phát cao dai dẳng kéo theo việc điều
chỉnh giá trong nước theo tỷ giá ngoại tệ. Nhưng lạm phát cao làm mất giá đồng
nội tệ, điều này lại dẫn tới giá hàng hóa trong nước tăng theo. Cố định tỷ giá
giúp cho quá trình này dừng lại nhanh chóng. Mặt khác, cam kết giữ tỷ giá cố định
hàm ẩn cam kết ổn định tiền tệ và tài khóa, mà không có chúng thì tỷ giá cố định
không thể duy trì. Nói cách khác, cố định tỷ giá là một cách để tăng độ khả
tín. “Liệu pháp sốc” kiểu này vận hành khá ổn tại nhiều nước, bao gồm Bolivia,
Ba Lan, Argentina và Brazil. Tuy nhiên, trong đa số nước này, tình trạng lạm
phát không chấm dứt ngay. Giá cả hàng hóa thương mại bình ổn nhanh chóng, nhưng
giá cả hàng hóa phi thương mại tiếp tục tăng, cùng với đó là lương. Chúng tăng
chậm hơn trước, nhưng với lượng vừa đủ để gây ra sự trượt giá lớn của tỷ giá thực
và suy yếu trên cán cân vãng lai. Cho nên lúc đó vẫn cần thiết phải phá giá đồng
nội tệ. Vì vậy, những người tiếp tục khuyến nghị liệu pháp sốc kiểu này cũng
nhanh chóng cảnh báo các chính phủ áp dụng chúng phải lên kế hoạch rút lui – một
lối thoát để tăng tính linh hoạt của tỷ giá trước khi tỷ giá thực trượt đủ lớn.
Kết luận
Cho phép tôi tóm lược lại bằng bốn luận điểm chính:
- Neo tỷ giá có điều chỉnh là không khả thi, nhưng những ràng buộc đặt ra bởi việc cố định cứng nhắc tỷ giá có thể cực kỳ tốn kém. Chúng đặt ra những ràng buộc chặt cho chính sách tiền tệ
- Một nước không thể cố định tỷ giá một cách toàn diện nếu các nước khác không làm như vậy. Đây là những gì các nước châu Á rút ra được trong những năm 90 của thế kỷ 20, khi sự tăng giá của đồng dollar Mỹ so với yên Nhật, và những gì Argentina học được khi đồng real của Brazil mất giá so với dollar Mỹ.
- Từ lâu, Robert Mundell đã cảnh báo rằng thế giới không phải là một khu vực tiền tệ tối ưu. Các nền kinh tế dễ tổn thương với cái mà giờ chúng ta gọi là cú sốc bất đối xứng, và nhiều nước không thể đối phó với những cú sốc này mà không điều chỉnh tỷ giá. Tán thành việc neo tỷ giá toàn cầu vừa không sáng suốt vừa không thực tế.
- Khi bình ổn giá cả là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ, áp dụng cơ chế đặt tỷ lệ lạm phát mục tiêu có thể là cách ít tốn kém nhất và hợp lý nhất để gây dựng độ khả tín cho chính sách tiền tệ
Nếu có thêm thời gian viết cho tôi và thời gian đọc cho các bạn,
tôi sẽ trình bày ra các luận điểm chính ủng hộ các chế độ tỷ giá linh hoạt. Tuy
nhiên, nếu tôi làm vậy, tôi sẽ phải đính kèm phản biện cho mỗi luận cứ, như
cách tôi vừa làm với các luận cứ ủng hộ tỷ giá cố định. Tỉ giá linh hoạt có thể
rất dễ biến động, vì chúng bị dẫn dắt chủ yếu bởi các dòng vốn dễ biến động.
Chúng không nhất thiết đi cùng một hướng với lý thuyết sức mua tương đương, và
các vận động của chúng không phải lúc nào cũng theo hướng giảm mất cân bằng cán
cân vãng lai. Trên thực tế, chúng đôi khi di chuyển theo hướng tạo ra các mất
cân bằng trên cán cân vãng lai. Hơn nữa, chúng truyền tải cú sốc trên thị trường
tài sản trực tiếp vào thị trường hàng hóa.
Vào năm 1987, ngay sau Hiệp ước Louvre, tôi đã thúc giục các
nước công nghiệp áp dụng cơ chế wide-band target zone gần giống với cơ chế được
áp dụng bởi EMS vào năm 1993. Tôi đáng lẽ nên nhớ lại những gì tôi viết trước
đó ít lâu, vào năm 1973, trong những lần cân nhắc của Ủy ban Hai mươi
(Committee of the Twenty), nơi cố gắng thiết kế cái mà nó gọi là hệ thống tỷ
giá ổn định nhưng điều chỉnh được. Tôi đã nói rằng đó là một sự kết hợp từ hai thứ
đối nghịch. Tính ổn định không tương thích với tính dễ điều chỉnh.
[1] Cato Journal, Vol. 20, No. 1 (Spring/Summer 2000). Bản
quyền của Cato Institute. Tất cả quyền được bảo vệ.
Peter B. Kenen là
giáo sư Kinh tế học và Tài chính quốc tế tại Đại học Princeton.
[2]
Single European Market
[3]
Tên đầy đủ: Mercado Común del Sur (Thị trường chung Nam Mỹ), Bao gồm Argentina,
Brazil, Paraguay, và Uruguay.
[5]
Inflation targeting: là một cơ chế chính sách tiền tệ sử dụng bởi ngân hàng
trung ương để duy trì giá cả trong một mức hoặc một vùng nhất dịnh.
Nhận xét
Đăng nhận xét