Một bài báo tôi share trên facebook có tham khảo một nghiên cứu của Grossman và Krueger (1995) về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường. Nó cung cấp bằng chứng cho một luận điểm rằng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi cùng với suy thoái môi trường.
Đa số người đọc status sẽ không tìm đến bài báo này nữa, và điều đó là bình thường. Post này dành cho thiểu số những người muốn đọc thêm, nhất là phần kết luận. Các sinh viên đang tìm đề tài luận án có thể thấy nó có ích ở khía cạnh nào đó.
Ở dưới có đường dẫn để đọc (và tải) bản gốc bài báo cùng với bản dịch thô phần kết luận mà đoạn đầu của nó cũng là phần tóm tắt (abstract). Một số từ viết tắt, thuật ngữ không có từ tiếng Việt tương đương được giải thích trong ngoặc {}.
Link: Grossman and Krueger (1995)
Kết luận
Chúng tôi xem xét mối quan hệ ở dạng rút gọn giữa GDP và nhiều chỉ báo về điều kiện môi trường sử dụng dữ liệu bảng {panel data} từ GEMS {Global Environmental Monitoring System - Hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu}. Các biến số chỉ báo liên quan đến ô nhiễm không khí thành thị và ô nhiễm ở các lưu vực sông. Dù phải thừa nhận rằng các thông số trên chỉ bao hàm một vài chiều kích về chất lượng môi trường, nghiên cứu của chúng tôi là toàn diện nhất có thể vì sự hạn chế của các dữ liệu so sánh được từ các nước khác nhau.
Trái lại với những tiếng kêu cứu gieo nỗi sợ hãi của một số nhóm vì môi trường, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng về việc tăng trưởng kinh tế tạo ra các tổn hại không thể tránh khỏi với môi trường sống tự nhiên. Thay vào đó, chúng tôi thấy rằng tăng trưởng GDP có thể gây ra sự suy thoái điều kiện môi trường ở các nước rất nghèo, chất lượng nước và khí thở có vẻ cải thiện nhờ tăng trưởng kinh tế một khi thu nhập đạt đến một mức nhất định. Điểm uốn của mối quan hệ hình chuông {U-shaped} này biến thiên giữa các nước, nhưng trong đa số các trường hợp, nó xảy ra ở mức thu nhập dưới 8.000 USD (giá năm 1985). Với một nước có thu nhập 10.000 USD, giả thuyết tăng trưởng kinh tế thêm nữa gây ra suy thoái môi trường bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% trong đa số các chỉ báo môi trường.
...
Có nhiều điểm cần nhấn mạnh liên quan đến việc diễn giải kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Thứ nhất, ngay cả tại những chiều kích về chất lượng môi trường mà ở đó tăng trưởng kinh tế dẫn tới sự cải thiện, không có lí do để tin rằng đó là một quá trình tự động. Về nguyên tắc, chất lượng môi trường có thể tự động cải thiện khi các nước phát triển lên nếu họ thay thế các công nghệ bẩn bằng công nghệ sạch hơn, hoặc nếu như một số mô hình chuyển đổi cơ cấu nhất định có tác động rõ ràng tới việc xả thải. Phương pháp của chúng tôi không cho phép mình bác bỏ các giả thuyết đó, ngay cả việc nghiên cứu cách thức ảnh hưởng của thay đổi thu nhập lên môi trường. Tuy nhiên, việc xem lại các bằng chứng hiện có là những thí dụ về cắt giảm ô nhiễm (ví dụ, xem OECD [1991]) gợi ý rằng mắt xích lớn nhất giữa thu nhập và xả thải trên thực tế là thông qua các phản ứng chính sách thức thời. Khi các quốc gia và khu vực đạt mức thịnh vượng cao hơn, các công dân đòi hỏi sự chú ý nhiều hơn đến các khía cạnh phi kinh tế trong điều kiện sống của mình. Các nước giàu hơn, nơi thường có không khí trong hơn và các lưu vực sông sạch hơn, cũng thường có tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn và thực thi luật môi trường quyết liệt hơn các nước thu nhập trung bình và thấp, mà nhiều trong số này vẫn có những vấn đề môi trường cấp bách phải xử lý.
Thứ hai, các mẫu hình đường dốc xuống và hình chuông có thể xuất hiện vì khi phát triển lên, các nước dừng sản xuất các hàng hóa gây ô nhiễm nặng, thay vào đó bắt đầu nhập khẩu các hàng hóa này từ các nước có luật bảo vệ môi trường bớt nghiêm ngặt hơn. Nếu đây là lí do chính của mối quan hệ nghịch đảo giữa thu nhập và độ ô nhiễm, thì đường lối phát triển trong tương lai không thể bắt chước các mẫu hình trong quá khứ. Các nước đang phát triển sẽ không luôn luôn tìm được các nước nghèo hơn để làm nơi sản xuất các hàng hóa gây ô nhiễm nặng. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện có không ủng hộ giả thuyết sự khác biệt về tiêu chuẩn môi trường giữa các nước là một yếu tố tác động quan trọng với mẫu hình toàn cầu về thương mại quốc tế (ví dụ, xem Tobey [1990], Grossman và Krueger [1993]). Dù một số vụ vận chuyển chất thải sang nước có luật môi trường lỏng lẻo hơn {environmental dumping} chắc chắn đã diễn ra, quy mô của những thương vụ này có thể là quá nhỏ để giải thích cho mức giảm ô nhiễm đang thấy song hành với các giai đoạn tăng trưởng kinh tế.
Cuối cùng, phải nhấn mạnh rằng mối liên hệ {giữa thu nhập và ô nhiễm} đã được quan sát thấy trong quá khứ không phải là điều hiển nhiên. Các mẫu hình này phản ánh điều kiện công nghệ, chính trị và kinh tế ở thời điểm đó. Các nước thu nhập thấp hiện nay có cơ hội có một không hai để học hỏi từ lịch sử và nhờ đó tránh các sai lầm của các giai đoạn tăng trưởng trước kia. Với nhận thức gia tăng về các tác hại môi trường và sự phát triển trong những năm gần đây của các công nghệ mới sạch hơn bao giờ hết, chúng ta có thể hy vọng sẽ thấy các nước thu nhập thấp dành sự quan tâm tới bảo tồn môi trường ở các nấc thang phát triển sớm hơn các nước đi trước.
Đa số người đọc status sẽ không tìm đến bài báo này nữa, và điều đó là bình thường. Post này dành cho thiểu số những người muốn đọc thêm, nhất là phần kết luận. Các sinh viên đang tìm đề tài luận án có thể thấy nó có ích ở khía cạnh nào đó.
Ở dưới có đường dẫn để đọc (và tải) bản gốc bài báo cùng với bản dịch thô phần kết luận mà đoạn đầu của nó cũng là phần tóm tắt (abstract). Một số từ viết tắt, thuật ngữ không có từ tiếng Việt tương đương được giải thích trong ngoặc {}.
Link: Grossman and Krueger (1995)
Kết luận
Chúng tôi xem xét mối quan hệ ở dạng rút gọn giữa GDP và nhiều chỉ báo về điều kiện môi trường sử dụng dữ liệu bảng {panel data} từ GEMS {Global Environmental Monitoring System - Hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu}. Các biến số chỉ báo liên quan đến ô nhiễm không khí thành thị và ô nhiễm ở các lưu vực sông. Dù phải thừa nhận rằng các thông số trên chỉ bao hàm một vài chiều kích về chất lượng môi trường, nghiên cứu của chúng tôi là toàn diện nhất có thể vì sự hạn chế của các dữ liệu so sánh được từ các nước khác nhau.
Trái lại với những tiếng kêu cứu gieo nỗi sợ hãi của một số nhóm vì môi trường, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng về việc tăng trưởng kinh tế tạo ra các tổn hại không thể tránh khỏi với môi trường sống tự nhiên. Thay vào đó, chúng tôi thấy rằng tăng trưởng GDP có thể gây ra sự suy thoái điều kiện môi trường ở các nước rất nghèo, chất lượng nước và khí thở có vẻ cải thiện nhờ tăng trưởng kinh tế một khi thu nhập đạt đến một mức nhất định. Điểm uốn của mối quan hệ hình chuông {U-shaped} này biến thiên giữa các nước, nhưng trong đa số các trường hợp, nó xảy ra ở mức thu nhập dưới 8.000 USD (giá năm 1985). Với một nước có thu nhập 10.000 USD, giả thuyết tăng trưởng kinh tế thêm nữa gây ra suy thoái môi trường bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% trong đa số các chỉ báo môi trường.
...
Có nhiều điểm cần nhấn mạnh liên quan đến việc diễn giải kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Thứ nhất, ngay cả tại những chiều kích về chất lượng môi trường mà ở đó tăng trưởng kinh tế dẫn tới sự cải thiện, không có lí do để tin rằng đó là một quá trình tự động. Về nguyên tắc, chất lượng môi trường có thể tự động cải thiện khi các nước phát triển lên nếu họ thay thế các công nghệ bẩn bằng công nghệ sạch hơn, hoặc nếu như một số mô hình chuyển đổi cơ cấu nhất định có tác động rõ ràng tới việc xả thải. Phương pháp của chúng tôi không cho phép mình bác bỏ các giả thuyết đó, ngay cả việc nghiên cứu cách thức ảnh hưởng của thay đổi thu nhập lên môi trường. Tuy nhiên, việc xem lại các bằng chứng hiện có là những thí dụ về cắt giảm ô nhiễm (ví dụ, xem OECD [1991]) gợi ý rằng mắt xích lớn nhất giữa thu nhập và xả thải trên thực tế là thông qua các phản ứng chính sách thức thời. Khi các quốc gia và khu vực đạt mức thịnh vượng cao hơn, các công dân đòi hỏi sự chú ý nhiều hơn đến các khía cạnh phi kinh tế trong điều kiện sống của mình. Các nước giàu hơn, nơi thường có không khí trong hơn và các lưu vực sông sạch hơn, cũng thường có tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn và thực thi luật môi trường quyết liệt hơn các nước thu nhập trung bình và thấp, mà nhiều trong số này vẫn có những vấn đề môi trường cấp bách phải xử lý.
Thứ hai, các mẫu hình đường dốc xuống và hình chuông có thể xuất hiện vì khi phát triển lên, các nước dừng sản xuất các hàng hóa gây ô nhiễm nặng, thay vào đó bắt đầu nhập khẩu các hàng hóa này từ các nước có luật bảo vệ môi trường bớt nghiêm ngặt hơn. Nếu đây là lí do chính của mối quan hệ nghịch đảo giữa thu nhập và độ ô nhiễm, thì đường lối phát triển trong tương lai không thể bắt chước các mẫu hình trong quá khứ. Các nước đang phát triển sẽ không luôn luôn tìm được các nước nghèo hơn để làm nơi sản xuất các hàng hóa gây ô nhiễm nặng. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện có không ủng hộ giả thuyết sự khác biệt về tiêu chuẩn môi trường giữa các nước là một yếu tố tác động quan trọng với mẫu hình toàn cầu về thương mại quốc tế (ví dụ, xem Tobey [1990], Grossman và Krueger [1993]). Dù một số vụ vận chuyển chất thải sang nước có luật môi trường lỏng lẻo hơn {environmental dumping} chắc chắn đã diễn ra, quy mô của những thương vụ này có thể là quá nhỏ để giải thích cho mức giảm ô nhiễm đang thấy song hành với các giai đoạn tăng trưởng kinh tế.
Cuối cùng, phải nhấn mạnh rằng mối liên hệ {giữa thu nhập và ô nhiễm} đã được quan sát thấy trong quá khứ không phải là điều hiển nhiên. Các mẫu hình này phản ánh điều kiện công nghệ, chính trị và kinh tế ở thời điểm đó. Các nước thu nhập thấp hiện nay có cơ hội có một không hai để học hỏi từ lịch sử và nhờ đó tránh các sai lầm của các giai đoạn tăng trưởng trước kia. Với nhận thức gia tăng về các tác hại môi trường và sự phát triển trong những năm gần đây của các công nghệ mới sạch hơn bao giờ hết, chúng ta có thể hy vọng sẽ thấy các nước thu nhập thấp dành sự quan tâm tới bảo tồn môi trường ở các nấc thang phát triển sớm hơn các nước đi trước.
Nhận xét
Đăng nhận xét