Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Kinh tế Việt Nam 2017 và triển vọng 2018

Nền kinh tế Việt Nam có một năm khởi sắc, các cân đối vĩ mô cải thiện tích cực. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 6,81%; tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 2,24%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,53%, tỷ giá ngoại tệ ít biến động. Sau 5 năm đi lên, nền kinh tế đang tiến dần về đỉnh pha phục hồi của chu kỳ kinh tế. Đây là giai đoạn chứng kiến sản lượng công nghiệp tăng mạnh, niềm tin tiêu dùng và sức chi tiêu cao, tín dụng tăng nhanh, và lợi nhuận doanh nghiệp bứt phá dựa trên nền tảng mặt bằng lãi suất thấp và điều kiện kinh doanh cải thiện. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nằm ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo (CBCT) và ngành dịch vụ. GDP ngành CBCT và dịch vụ tăng lần lượt 14,4% và 7,4% so với 2016, đóng góp tương ứng 2,33 điểm và 2,87 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Vấp phải nhiều khó khăn, sản lượng ngành nông nghiệp tăng 2,9%, trong khi ngành khai khoáng giảm...

Barings – Một trường hợp về quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ

Hubert Edwards September 2014 Vào năm 1995, ngân hàng đầu tư lâu đời nhất của Anh với 200 năm tuổi đã ngừng hoạt động. Đó là ngân hàng Barings. Sự sụp đổ của ngân hàng là hậu quả từ hành động của một nhân viên kinh doanh công cụ phái sinh tên là Nick Leeson tại trụ sở Singapore. Nếu không xem xét cặn kẽ và có cân nhắc, bất cứ ai cũng có thể kết luận trách nhiệm hoàn toàn thuộc về anh nhân viên kia. Song người có tư duy phân tích có thể hỏi: Làm thế nào người đàn ông này lại có thể làm lụn bại một tên tuổi lớn của ngành tài chính? Đâu là vai trò của ban quản trị trong tình huống này và họ có góp phần vào sự sụp đổ không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả đến đâu và các bộ phận kinh doanh ở Singapore có được quản trị hiệu quả không? Câu trả lời cho những câu hỏi như trên và tương tư quả thực sẽ thú vị và có ích trong việc phân tích sự đổ vỡ hoàn toàn của Baring. Được tường thuật một cách rộng rãi trong những năm 90 của thế kỷ 20, sự sụp đổ của ngân hàng này vẫn để lại nh...

Tăng trưởng kinh tế và môi trường

Một bài báo tôi share trên facebook có tham khảo một nghiên cứu của Grossman và Krueger (1995) về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường. Nó cung cấp bằng chứng cho một luận điểm rằng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi cùng với suy thoái môi trường. Đa số người đọc status sẽ không tìm đến bài báo này nữa, và điều đó là bình thường. Post này dành cho thiểu số những người muốn đọc thêm, nhất là phần kết luận. Các sinh viên đang tìm đề tài luận án có thể thấy nó có ích ở khía cạnh nào đó. Ở dưới có đường dẫn để đọc (và tải) bản gốc bài báo cùng với bản dịch thô phần kết luận mà đoạn đầu của nó cũng là phần tóm tắt (abstract). Một số từ viết tắt, thuật ngữ không có từ tiếng Việt tương đương được giải thích trong ngoặc {}. Link: Grossman and Krueger (1995) Kết luận Chúng tôi xem xét mối quan hệ ở dạng rút gọn giữa GDP và nhiều chỉ báo về điều kiện môi trường sử dụng dữ liệu bảng {panel data} từ GEMS {Global Environmental Monitoring System - Hệ thống quan trắc môi tr...

So sánh tỷ giá cố định với tỷ giá thả nổi

bản gốc tại đây: CATO So sánh cơ chế tỷ giá cố định với cơ chế tỷ giá thả nổi Peter B. Kenen [1] Trong những năm 90 của thế kỷ 20 xuất hiện một sự đồng thuận mới về chế độ tỷ giá. Các chính phủ phải chọn giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định. Neo tỷ giá có điều chỉnh, như trong hệ thống Bretton Woods và Hệ thống Tiền tệ Châu Âu (EMS) trước 1993, không còn khả thi bởi khả năng tổn thương trước các đợt tấn công đầu cơ. Lưu ý rằng tôi thay thế thuật ngữ tỷ giá “linh hoạt” bằng tỷ giá “thả nổi”, vì nhiều người đồng tình với đồng thuận mới chưa hoàn toàn bị thuyết phục rằng thị trường hiểu biết hơn các chính phủ và không từ bỏ can thiệp để tác động lên tỷ giá được thị trường điều chỉnh. Quả thực, một vài người tiếp tục tin rằng khống chế tỷ giá xung quanh tỷ lệ mục tiêu (wide-band target zone) hay dao động quanh một tỷ lệ có điều chỉnh định kỳ (crawling bands) vẫn còn khả thi. Tôi đồng tình với đồng thuận mới này trong chừng mực nó cảnh báo phải tránh áp dụng neo tỷ giá có điều...

Trở về tương lai

Ray Dalio, sáng lập Quỹ Bridgewater Associates Đây không phải một chu kỳ kinh doanh thông thường; chính sách tiền tệ sẽ rất thiếu hiệu quả trong tương lai; lợi tức đầu tư sẽ rất thấp. Những điều này đã trở thành góc nhìn phổ biến, nhưng có ít lý giải về tại sao chúng lại đúng. Tôi dùng một bộ khung đơn giản xem xét bộ máy kinh tế vận hành như thế nào để giúp làm sáng tỏ. bộ khung này có ba thành phần. First, there are three main forces that drive all economies: 1) productivity; 2) the short-term debt cycle, or business cycle, running every five to ten years; and 3) the long-term debt cycle, over 50 to 75 years. Most people don’t adequately understand the long-term debt cycle because it comes along so infrequently. But this is the most important force behind what is happening now. Thứ nhất, có 3 động lực chính dẫn lái mọi nền kinh tế: 1) năng suất; 2) chu kỳ nợ ngắn, hoặc chu kỳ kinh doanh, kéo dài từ 5 đến 10 năm; và 3) chu kỳ nợ dài, từ trên 50 đến 75 năm. Đa số người k...